Cây Cao Su Tại Việt Nam

Vườn Cây Cao Su
165

Nguồn gốc cây cao su, từng một thời được mệnh danh là “vàng trắng” tại Việt Nam. Phân bổ vùng trồng cây cao su tại Việt Nam trong những năm vừa qua.

Giới thiệu cây cao su ở Việt Nam

Cây Cao Su

Về cao su thiên nhiên có nhiều loại sản xuất ra cao su. Tuy nhiên, về chất lượng mủ, hiệu quả kinh tế thì loài Hevea brasiliensis là đáp ứng tốt nhất. Và Hevea brasiliensis Muell. Arg chính là cây cao su hiện nay chúng ta thấy được trồng phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới.

Nguồn gốc cây cao su

Cây cao su có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon trãi dài trên diện tích các quốc gia Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, Surinam và French Guyana.(vĩ độ 15 độ Nam đến 60 độ Bắc, giữa kinh độ 46 độ Tây và 77 độ Đông).

Cao su là loài thân gỗ, sinh trưởng nhanh trung bình từ 25 đến vanh thân trung bình cuối chu kỳ cạo đạt 70 – 100cm. Mủ cao su là dung dịch thể keo, có màu trắng sữa, hơi vàng hoặc ngã đen tùy theo giống cao su.

Lá cao su là lá kép, gồm có 3 lá chét với phiến lá nguyên mọc cách. Cây cao su có chu kỳ rụng lá mùa đông thường bắt đầu vào tháng 11, lá rụng hoàn toàn sau đó ra bộ lá mới. Hoa cao su nhỏ, hình chuông với năm lá đài màu vàng thường ra vào tháng 2 – 3 ở Việt Nam.

Trái cao su dạng quả nang gồm 3 – 4 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt. Bộ rễ cọc của cây cao su có thể dài đến 10 m khi trưởng thành trong điều kiện đất có cấu trúc tốt, 80 – 85 % rễ bàng tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt.

Vòng đời cây cao su

Ngoài tự nhiên cây cao su có thể sống trên 100 năm. Trong điều kiện canh tác, chu kỳ vòng đời cây cao su từ 25 đến 30 năm, chia làm 2 thời kỳ chính:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: từ khi trồng đến lúc vườn cây đưa vào cạo mủ thường từ 5 – 8 năm tuỳ giống cao su và điều kiện môi trường.

Thời kỳ kinh doanh: kéo dài trong 20 – 25 năm. Do đặc điểm về chế độ khai thác, chia thành 3 nhóm cây.

  • Vườn cây nhóm I (vườn cây tơ): ở năm cạo thứ 1 đến 10.
  • Vườn cây nhóm II (vườn cây trung niên): ở năm cạo thứ 11 đến 17.
  • Vườn cây nhóm III (vườn cây già, thanh lý): ở năm cạo thứ 18 trở đi.

Lịch sử phát triển cây cao su Việt Nam

Trước năm 1975

  • Cây cao su được thực dân Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1878 trồng tại Thảo Cầm Viên hiện nay.
  • Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong đó sống được 1600 cây , 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 được bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (Nay là Long Khánh – Đồng Nai).
  • Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây – Long Khánh – Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin… Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
  • Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.
  • Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
  • Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cây cao su ở khu vực này.
  • Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ).

Sau năm 1975

  • Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.
  • Từ 1977, cao su được trồng mới tại Tây Nguyên. Bắt đầu từ các nông trường quân đội, sau 1985 là các nông trường quốc doanh. Từ 1992 đến nay có sự tham gia của tiểu điền. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng Trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.
  • Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.
  • Theo số liệu của VRA, đến cuối năm 2012 tổng diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 910.500 ha với sản lượng ước đạt 863.600 tấn. Nắm giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.
  • Số liệu tổng quan về tình hình ngành cao su các nước thành viên ANRPC năm 2017. Diện tích cây cao su ở Việt Nam là 969.700 ha với sản lượng đạt 1.094.500 tấn.

Vùng trồng cây cao su ở Việt Nam

Hiện nay Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới với diện tích cây cao su là 969.700 ha ( diện tích thu hoạch 653.200 ha), sản lượng 1.094.500 tấn với năng suất trung bình đạt 1.676 kg/ha/năm. (Tất cả số liệu nguồn VRA năm 2017)
Bản Đồ Vùng Trồng Cây Cao Su Việt Nam

Đông Nam Bộ

Đây được coi là vùng truyền thống trồng cao su từ thời Pháp đến nay. Với diện tích chiếm 56.6%, sản lượng chiếm 71% đứng đầu cả nước. Cụ thể diện tích đạt 548.864 ha (2017), sản lượng 777.243 tấn (2017) với năng suất trung bình đạt 1.863 kg/ha/năm (2017). Diện tích cây cao su ở Đông Nam Bộ chủ yếu tập trung tại một số tỉnh thành như Bình Phước 237.568 ha, Bình Dương 133.998 ha, Tây Ninh 100.437 ha, Đồng Nai 51.272 ha, Bà Rịa – Vũng Tàu 21.725 ha, TP. Hồ Chí Minh 3.733 ha. Đặc biệt thống kê có Long An 131 ha cây cao su.

Tây Nguyên

Tây Nguyên đứng sau Đông Nam Bộ với diện tích 249.014 ha chiếm 26%, sản lượng 215.374 tấn chiếm 19.7% với năng suất trung bình đạt 1.412 kg/ha/năm. Diện tích cao su vùng Tây Nguyên tập trung ở các tỉnh gồm Kom Tum 74.756 ha, Gia Lai 100.356 ha, Đắk Lắk 38.381 ha, Đắk Nông 26.348 ha, Lâm Đồng 9.173 ha.

 

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung có diện tích trồng cao su là 141.461 ha chiếm 14.6% (2017) với năng suất trung bình đạt 1.237 kg/ha/năm. Tập trung ở các tỉnh Thanh Hóa 14.889 ha, Nghệ An 11.698 ha, Hà Tĩnh 9.479 ha, Quảng Bình 14.152 ha, Quảng Trị 19.511 ha, Thừa Thiên Huế 8.907 ha, Quảng Nam 12.890 ha, Quảng Ngãi 1.639 ha, Bình Định 54 ha, Phú Yên 4.775 ha, Khánh Hòa 428 ha, Ninh Thuận 338 ha, Bình Thuận 42.700 ha.

Miền Núi Phía Bắc

Cây cao su được trồng ở Miền Núi Phía Bắc từ năm 2010 đến nay có diện tích 30.347 ha chiếm 3.1%, sản lượng đạt 1.917 tấn với năng suất trung bình đạt 732 kg/ha/năm. Ở miền núi phía Bắc cây cao su được trồng ở các tỉnh Hà Giang 1.514 ha, Lào Cai 2.858 ha, Yên Bái 2.280 ha, Phú Thọ 17 ha, Điện Biên 4.959 ha, Lai Châu 12.679 ha, Sơn Lai 6.039 ha.

Với kết quả đạt được tính đến năm 2017, Việt Nam tiếp tục đứng thứ 3 trong những nước dẫn đầu về sản lượng cao su thiên nhiên với tỷ trọng khoảng 8.2% sau Thái Lan và Indonesia.

Kết luận

Lịch sử phát triển hơn 120 năm, cây cao su đã trở thành cây công nghiệp hàng đầu tại Việt Nam. Có đóng góp quan trọng từ kinh tế, quốc phòng, xóa đói giảm nghèo. Tuy hiện nay giá mủ cao su có phần xuống thấp, nhưng cây cao su vẫn được xem là cây trồng giá trị cao.

Giống Cao Su
error: Nội dung bị ẩn!