Những Giống Cao Su Được Trồng Phổ Biến Tại Việt Nam

400

Bạn có bao giờ thắc mắt có bao nhiêu giống cao su đã được trồng ở Việt Nam? Qua từng giai đoạn giống nào là phổ biến nhất?

Tôi tin chắc hẳn không nhiều người có thể trả lời cho câu hỏi này. Tôi cũng đã tìm hiểu rất nhiều tài liệu để có thể viết ở đây những giống cao su phổ biến qua từng giai đoạn.

Từ những giống cao su phổ biến qua các giai đoạn trước năm 2000. Hay những giống nhập nội RRIM 600, PB 260, GT 1 thay thế các giống thực sinh từ thời Pháp thuộc. Đến những giống cao su được lai chọn lọc phổ biến hiện nay như RRIV 209, RRIV 106, RRIV 124.

Bài viết này sẽ giúp các bạn làm sáng tỏ những câu hỏi trên. Lưu ý các giống cao su theo  giai đoạn dưới đây được viết theo khuyến cáo cơ cấu giống cao su của VRG qua các thời kỳ.

Giai đoạn 2016 – 2020

Đây là giai đoạn theo cơ cấu giống được ban hành của VRG (thường 5 năm). Ở đây khuyến cáo các giống cao su phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai theo vùng cụ thể. Những giống ở đây là những giống mới với năng suất mủ, gỗ, kháng bệnh, sinh trưởng đều vượt trội so với các giai đoạn trước.

1. Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ được coi là vùng trồng truyền thống của cây cao su tại Việt Nam. Với diện tích 548.864 ha (2017) nằm trên các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh.

Giai đoạn 2015 – 2020 nổi lên những giống mới đặc biệt là RRIV 124. RRIV 124 với khả năng phát triển cực tốt, tỷ lệ ghép sống cao, hình thái đẹp nên rất được ưa chuộng. Từ năm 2017 RRIV 209 đang là lựa chọn mới bên cạnh RRIV 124. Ngoài ra Đông Nam Bộ còn có những giống phù hợp khác như RRIV 106, RRIV 114, PB 255, RRIV 1.

2. Tây Nguyên

Với diện tích 249.014 ha trải dài từ Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum cùng những đặc điểm khí hậu, đất đai đặc thù.

Trong gia đoạn 2015 – 2020, Tây Nguyên như Đông Nam Bộ được trồng phổ biến là giống RRIV 124 (chủ yếu các hộ tư nhân). Bên cạnh đó là những giống được khuyến cáo như RRIV 103, RRIV 209 hay PB 312 (các doanh nghiệp quốc doanh).

3. Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung

Diện tích 141.461 ha trải dài từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận, Bình Thuận. Nam Trung Bộ Duyên Hải Miền Trung chủ yếu trồng RRIV 124, RRIV 209, RRIV 106 tập trung ở các công ty Bình Thuận, Quảng Nam, Phú Yên.

Bắc Trung Bộ với điều kiện khí hậu khó khăn, gió rét, bão, hạn hán gió lào. Nên đặc biệt trồng phổ biến 2 giống RRIC 100, RRIC 121, bên cạnh đó là RRIV 124. Ở Thanh Hóa, Nghệ An những diện tích trên 400m trồng giống IAN 873.

4. Miền Bắc

Diện tích 30.347 chủ yếu tập trung ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang. Do đặc điểm khí hậu khá khắc nghiệt, nên giống cao su chủ yếu được trồng ở vùng này là IAN 873 chủ yếu ở các công ty quốc doanh. Ngoài ra có một số diện tích thuận lợi ở Lai Châu, Sơn La có trồng RRIV 124.

Gia đoạn 2011 – 2015

1. Đông Nam Bộ

Giai đoạn 2011 – 2015 được coi là giai đoạn bùng nổ của giống RRIV 124, hầu hết các diện tích trồng mới tư nhân và đa số diện tích công ty quốc doanh đều trồng giống RRIV 124. Ngoài ra ở Đông Nam Bộ còn trồng các giống RRIV 1, RRIV 5, PB 255 trên một số diện tích.

2. Tây Nguyên

Trong gia đoạn 2011 – 2015, Tây Nguyên trồng phổ biến là 3 giống PB 260, RRIM 600 và RRIV 124 trên các diện tích tái canh trồng mới. Ngoài ra có một số diện tích cao trên 600m được trồng bằng GT 1.

3. Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung

Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ giai đoạn này được trồng chủ yếu là RRIM 600, RRIM 712, RRIC 100 và RRIC 121.

4. Miền Bắc

Giai đoạn này miền bắc được trồng chủ yếu là RRIM 600, RRIC 121 và một số diện tích bằng RRIV 1.

Giai Đoạn 2007 – 2010

1. Đông Nam Bộ

Giai đoạn này Đông Nam Bộ được khuyến cáo trồng 3 giống đó là RRIV 3, PB 260 và PB 255. Chủ yếu các diện tích được trồng bằng PB 260.

2. Tây Nguyên

Giai đoạn 2006 – 2010 Tây Nguyên được khuyến cáo trồng các giống RRIM 600, PB 260, RRIC 121, GT 1. Trong đó diện tích PB 260 và RRIM 600 là lớn nhất.

3. Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung

Nam Trung Bộ, Bắc Trung Bộ giai đoạn này được trồng chủ yếu là RRIM 600, RRIM 712, RRIV 3, PB 260, GT 1.

4. Miền Bắc

Giai đoạn này chưa triển khai các dự án co su ở Miền núi Phía Bắc.

Giai đoạn 2002 – 2005

Giai đoạn này diện tích cao su trồng chủ yếu tập trung ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên các vùng khác vẫn chưa mở rộng.

Giai đoạn này trồng chủ yếu là PB 260, VM 515,RRIV 1, RRIV 2, RRIV 3, RRIV 5, GT 1, PB 235 đặc biệt là RRIV 4. Giai đoạn này nổi bật là RRIV 4 từng gây cơn sốt như RRIV 124 gần đây với sản lượng mủ cao cộng với hàm lượng mủ khô cực kỳ cao. Tuy nhiên, RRIV 4 cũng đã bộc lộ những nhược điểm như dễ gãy, đặc biệt là nhiễm nặng bệnh Corynespora ( đợt dịch bùng phát 2010 – 2011).

Giai đoạn trước năm 2000

Giai đoạn này ngành cao su bước đầu định hình. Những giống trồng cổ xưa dần được thay thế bằng các giống nhập nội như PB 260, PB 255, VM 515, PB 235, RRIM 600. Bên cạnh đó là các giống lai tạo được đưa ra thực nghiệm và dần bổ sung vào cơ cấu giống các giai đoạn sau.

Thông tin về một số giống cao su phổ biến

1. Giống RRIV 209

Nguồn Gốc: Giống RRIV 209 có nguồn gốc từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Được khuyến cáo làm giống sản xuất đại trà của vùng Đông Nam Bộ từ năm 2016 đến 2020.

Đặc điểm giống RRIV 209:

  • Có thân thẳng, tròn, nhiều cành nhỏ, có tán cân đối. Tăng vanh khá tốt trong thời gian khai thác nên có trữ lượng gỗ cao về cuối chu kỳ cạo. Phù hợp trồng ở vùng Đông Nam Bộ, cũng như thích ứng tốt với các điều kiện đặc biệt ở khu vực Tây Nguyên.
  • Giống RRIV 209 nhiễm nhẹ các bệnh phấn trắng, héo đen; dễ nhiễm bệnh Corynespora.
  • Năng suất rất cao, sớm. Trong điều kiện thuận lợi ở vùng Đông Nam Bộ có thể đạt 3 tấn/ha/năm ở năm cạo thứ 3. Hiện giống RRIV 209 có năng suất dẫn đầu so với 5 giống cao su được khuyến cáo sản xuất đại trà cho vùng Đông Nam Bộ cũng như Tây Nguyên bao gồm RRIV 209, RRIV 106, RRIV 103, RRIV 114.

Hiện tại giống RRIV 209 là giống có năng suất và trữ lượng gỗ cao. Đáp ứng với tiêu chí mới về phát triển vườn cây cao su theo hướng mũ gỗ. Với tình hình giá mủ cao su xuống thấp và giá cây cao su thanh lý lên cao đây là hướng đi cấp thiết. Chính vì vậy RRIV 209 nằm ở vị trí này.

Giống RRIV 124

Nguồn gốc: Giống cao su RRIV 124 hay có tên gọi khác là LH 90/952 (LH = Lai Hoa) có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam và bắt đầu phổ biến từ năm 2010 tới nay.
Lúc đầu RRIV 124 được khuyến cáo trong cơ cấu giống cao su giai đoạn 2010 – 2015. Đến năm 2016, RRIV 124 được khuyến cáo hạn chế trồng mới (do có diện tích trồng quá lớn, nhằm cân bằng và đa dạng nguồn giống cao su). Hai giống cao su RRIV 209, RRIV 106 là lựa chọn hàng đầu để thay thế cho RRIV 124.

Đặc điểm giống RRIV 124:

  • Giống cao su RRIV 124 có khả năng sinh trưởng cực kỳ tốt, thân cây thẳng phát triển cao 4 – 4,5m, tán lá thưa, lá có màu xanh đậm (ở vùng đất tốt cần tạo tán khi cây phát triển vượt mức 4 – 5m). RRIV 124 có trữ lượng gỗ khá cao vào cuối chu kỳ khai thác.
  • Giống RRIV 124 cho sản lượng mủ khởi đầu chậm ở năm cạo đầu. Sản lượng dần tăng vào các năm cạo tiếp theo với năng suất bình quân từ 2,5 đến 3 tấn/năm. RRIV 124 đáp ứng kích thích mủ rất tốt, cho năng suất tăng 15 đến 20% (nên tuân thủ bôi thuốc kích thích mủ đúng quy trình và kỷ thuật).
  • Bệnh Hại: Nhiễm nhẹ các bệnh phấn trắng và nấm hồng.
  • Lưu ý cần đảm bảo vườn cây đủ tuổi và vanh thân trước khi mở cạo đối với giống RRIV 124 để khai thác hết tiềm năng của giống.

Giống RRIV 124 là một trong những giống được trồng nhiều trong thời gian ngắn nhất. Với ưu thế đặc biệt về sinh trưởng cũng như tỷ lệ ghép khiến RRIV 124 trở nên phổ biến rất nhanh. Hiện tại diện tích RRIV 124 đã vào giai đoạn khai thác, bước đầu năng suất rất khả quan.

2. RRIV 106

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Hiện đang nằm trong bảng cơ cấu giống cao su 2016 – 2020 cho vùng Đông Nam Bộ.

Đặc điểm giống RRIV 106

  • Giống RRIV 106 sinh trưởng khá khỏe trong thời gian kiến thiết cơ bản. Trong gia đoạn khai thác, RRIV 106 tăng vanh khá tốt do đó có trữ lượng gỗ khá tốt ở cuối chu kỳ khai thác.
  • Năng suất giống cao su RRIV 106 đạt rất cao ở khu vực Đông Nam Bộ, năng suất của RRIV 106 có thể đạt từ 2,5 đến 3 tấn/ha/năm
  • Hình thái giống cao su RRIV 106 có thân thẳng tròn, nhiều cành nhỏ, tán cân đối. Chiều cao trung bình, ít cong nghiêng.
  • Chịu hạn khá, nhiễm nhẹ các bệnh phấn trắng, corynespora.
  • Tuy nhiên giống RRIV 106 có tỷ lệ nhân giống khá thấp khi so với các dòng vô tính khác.

Hiện giống cao su RRIV 106 đang là giống khuyến cáo trồng đại trà tại các vùng Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ bên cạnh giống RRIV 209. Và hiện cũng là một trong những lựa chọn hàng đầu thay thế giống cao su RRIV 124 đã quá phổ biến. Ngoài ra đây cũng là một giống có lượng gỗ thanh lý cao phù hợp với tình hình giá mủ thấp và giá gỗ cao su tăng cao.

Giống PB 235

Nguồn gốc: Là giống nhập nội có xuất xứ từ Malaysia. Được trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ từ trước những năm 2000.

Đặc điểm giống PB 235

  • Cây có thân chính thẳng cao, tán thưa, có trữ lượng gỗ rất cao vào cuối chu kỳ cạo.
  • Sinh trưởng khá khoẻ trong thời gian kiến thiết cơ bản, tăng trưởng khá trong chu kỳ khai thác.
  • Nhạy cảm với kích thích mủ, không thích hợp khai thác với cường độ cạo cao và kích thích nhiều dẫn đến khô mặt cạo.
  • Năng suất thay đổi theo điều kiện môi trường và từng năm. Sản lượng cao và sớm ở vùng thuận lợi, đạt trung bình ở vùng bất thuận. Trong 12 năm đầu năng suất bình quân 1,6 tấn/ha/năm, sản lượng PB 235 tập trung vào những tháng cuối năm.
  • Ít nhiễm các loại bệnh khác, nhưng đặc biệt mẩn cảm với bệnh phấn trắng, chịu gió kém.

Hiện nay, do giá thanh lý gỗ cao su lên cao nên giống PV 235 hot trở lại, do có trữ lượng gỗ khá cao. Tuy nhiên GiongCaoSu khuyến cáo nên trồng những giống mới thay thế như RRIV 209, RRIV 124, RRIV 106. Những giống này có năng suất cao, ít nhiễm bệnh, đặc biệt trữ lượng gỗ cuối chu kỳ hơn hoặc bằng PB 235.

Giống PB 255

Nguồn gốc: Được nhập nội từ Malaysia vào Việt Nam năm 1978. Được trồng phổ biến ở Đông Nam Bộ từ những năm 1994 đến nay. Hiện PB 255 vẫn được khuyến cáo là giống trồng đại trà ở Đông Nam Bộ.

Đặc điểm giống PB 255:

  • PB 255 sinh trưởng khá tốt ở vùng đất thuận lợi, và có sự biến thiên lớn với điều kiện đất đai cũng như khí hậu. Phát triển kém trong điều kiện kém thuận lợi, phát triển khá trong giai đoạn khai thác.
  • Thân hơi cong, chồi ngang nhiều, phân tán sớm. Vỏ nguyên sinh dày và cứng.
  • Năng suất rất cao ở vùng thuận lợi, đạt bình quân từ 2 tấn/ha/năm với không kích thích và 2,5 – 3 tấn/ha/năm với chế độ kích thích mủ theo qui trình. Đáp ứng khá tốt với chất kích thích mủ.
  • Dễ nhiễm các bệnh phấn hồng, các bệnh rụng lá mùa mưa, phấn trắng, corynespora ít mẫn cảm. Dễ khô miệng cạo. Kháng gió khá, chịu rét dưới trung bình.

Giống PB 255 với năng suất rất cao nên vẫn được khuyến cáo là giống trồng đại trà ở Đông Nam Bộ. Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của PB 255 là tỷ lệ ghép sống rất thấp. Cây phát triển khá kém ở năm đầu kiến thiết cơ bản.

Giống RRIV 1

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Được đưa ra đại trà từ năm 1994, bảng I cơ cấu giống năm 2011 – 2015 Đông Nam Bộ và hiện vẫn là giống Bảng I cơ cấu giống 2016 – 2020 tiểu vùng B.

Đặc điểm giống RRIV 1:

  • Sinh trưởng khỏe ở vùng thuận lợi, tăng vanh trong giai đoạn khai thác dưới trung bình. Vườn cây kiến thiết cơ bản đồng đều, tỷ lệ mở cạo cao.
  • Năng suất cao, sớm đạt bình quân 2,5 tấn/ha/năm ở vùng thuận lợi.
  • Thân thẳng nhiều cành nhỏ, tán hẹp và thấp, cây phân tầng sớm. Chịu rét trung bình và chịu hạn khá.
  • Nhiễm trung bình các bệnh phấn trắng, nấm hồng, ít mẫn cảm với bệnh corynespora và botry. Đặc biệt mẫn cảm với bệnh héo đen đầu lá.

Giống RRIV 1 với năng suất cao nên vẫn được khuyến cáo là giống trồng đại trà ở Đông Nam Bộ nhằm đa dạng bộ giống. Tuy nhiên, nhiễm khá nặng bệnh héo đen đầu lá và do cùng thời với RRIV 4 nên ít được chú ý.

Giống RRIC 121

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Ceylan nay là Sri Lanka. Được nhập nội vào Việt Nam từ năm 1977. Hiện là giống khuyến cáo cho vùng Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ cơ cấu 2016 – 2020.

Đặc điểm giống RRIC 121:

  • Sinh trưởng khỏe ở vùng Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, tăng vanh rất tốt trong giai đoạn khai thác. Trữ lượng gỗ rất cao ở cuối chu kỳ khai thác.
  • Năng suất đạt 1,5 tấn/ha/năm ở 5 năm cạo đầu, tiến tới 2 tấn/ha/năm ở những năm tiếp theo. Năng suất tăng cao và bền với các chế độ kích thích mủ.
  • Thân méo, hơi cong, phân cành thấp. Tán rậm trong thời gian kiến thiết cơ bản, nhưng duy trì cành cấp 1 lớn và tán cao trong giai đoạn khai thác. Vỏ mỏng và vỏ tái sinh khá tốt.
  • Nhiễm nhẹ các bệnh lá phổ biến, kháng gió và chịu rét rất tốt.

Giống RRIC 121 với khả năng chống chịu rét và gió khá tốt nên có thể trồng ở những khu vực có gió bão như ở Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ. Bên cạnh đó RRIC 121 cũng thích hợp làm giống gỗ mủ ở vùng thuận lợi. Một điều quan trọng là RRIC 121 hiện đang là dòng mẹ của khá nhiều giống nổi trội điển hình như RRIV 124.

Giống RRIC 100

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Ceylan nay là Sri Lanka. Được nhập nội vào Việt Nam từ năm 1977 cùng với RRIC 121. Hiện là giống khuyến cáo cho vùng Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ cơ cấu 2016 – 2020.

Đặc điểm giống RRIC 100:

  • Sinh trưởng đồng đều và ít biến động. Tăng vanh trong khi cạo khá.
  • Năng suất đạt 1,5 tấn/ha/năm ở 5 năm cạo đầu, tiến tới 2 tấn/ha/năm ở những năm tiếp theo.
  • Thân thẳng phân cành cân đối có nhiều cành tán tròn xanh đậm.
  • Nhiễm nhẹ các bệnh lá phổ biến, kháng gió rất tốt và chịu rét trung bình.

Giống RRIC 100 cũng với RRIC 121 là bộ giống kháng gió hiện nay. Thích hợp những khu vực có gió bão như ở Nam Trung Bộ và Bắc Trung Bộ. Tỷ lệ ghép sống thấp với mắt nâu và hạt gạo dễ tách ra.

Giống PB 260

Nguồn gốc: Là giống nhập nội có xuất xứ từ Malaysia. PB 260 là giống cao su được trồng đại trà ở hầu hết các vùng trồng cao su lâu nay.

Đặc điểm giống RRIV 124:

  • Đặc điểm hình thái của PB 260 đặc biệt nổi trội với Thân thẳng, tròn, chân voi rõ, tán cân đối, cành thấp tự rụng. Vỏ nguyên sinh dày trung bình, trơn dễ cạo, tái sinh tốt.
  • Sinh trưởng trong thời gian kiến thiết cơ bản ở Đông Nam bộ đạt mức khá, Tây Nguyên ở mức trung bình kém do chịu rét kém.
  • Ít nhiễm hoặc nhiễm nhẹ bệnh phấn trắng, dễ bị nhiễm bệnh loét sọc mặt cạo. Kháng gió khá.
  • Năng suất đạt bình quân 1,5 đến 2 tấn/ha/năm ở Đông Nam Bộ, đặc biệt PB 260 có hiện tượng đông mủ trên mặt cạo. Đông mủ trên mặt cạo đặc biệt nghiêm trọng ở những tháng cạo đầu tiên trong suốt chu kỳ cạo. Dẫn đến thất thoát mủ rất nhiều.

Hiện nay nên đặc biệt hạn chế trồng PB 260 do năng suất thấp, hiện tượng đông mủ trên mặt cạo. Và hiện nay có rất nhiều giống có thể thay thế cho PB 260.

Giống RRIV 4

Nguồn gốc: Viện Nghiên Cứu Cao su Việt Nam từ năm 2000. Đây là giống được trồng cực kỳ phổ biến ở Đông Nam Bộ trước năm 2010 về trước. Với sản lượng mủ rất cao, DRC cao, tuy nhiên với sự xuất hiện của bệnh corynespora và khả năng kháng gió kém. Giống RRIV 4 dần bị thay thế bởi những giống khác tốt hơn.

Đặc điểm giống RRIV 4:

  • Thân thẳng, tròn, vỏ hơi mỏng, dễ cạo.
  • Cây phát triển nhanh ở các năm đầu, cành gỗ ghép phát triển nhanh, nhiều mắt, ghép dễ sống. Tăng trưởng trong thời gian cạo kém. Có trữ lượng gỗ khá kém ở cuối chu kỳ cạo.
  • Năng suất rất cao và tăng dần theo các năm. Năng suất sớm đạt 2 – 3 tấn/ha ở năm cạo thứ 3. DRC rất cao từ 40 – 50%.
  • Nhiễm nhẹ các bệnh nấm hồng, loét sọc mặt cạo; dễ nhiễm và nặng bệnh phấn trắng, héo đen đầu lá, corynespora. Kháng gió rất kém, dễ gãy đổ.

Hiện nay nên đặc biệt hạn chế trồng RRIV 4.

Giống RRIV 5

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Được đưa ra đại trà từ năm 1994, bảng I cơ cấu giống năm 2011 – 2015 Đông Nam Bộ. Hiện đã không còn được khuyến cáo trồng đại trà.

Đặc điểm giống RRIV 5:

  • Sinh trưởng rất khỏe đồng đều trong thời gian kiến thiết cơ bản. Tăng vanh khá tốt trong giai đoạn khai thác.
  • Năng suất khá, sớm đạt bình quân 2 tấn/ha/năm. Đáp ứng khá thấp với kích thích mủ, năng suất thấp đột biến khi cạo gần gốc.
  • Thân cong, cành cấp 1 lớn và không đối xứng ở những năm kiến thiết cơ bản.
  • Nhiễm trung bình các bệnh phấn trắng, nấm hồng, ít mẫn cảm với bệnh corynespora.
  • Đặc biệt giống RRIV 5 chịu hạn rất kém.

Giống RRIV 5 với năng suất cao nên được khuyến cáo là giống trồng đại trà ở Đông Nam Bộ giai đoạn 2015 trở về trước. Tuy nhiên, RRIV 5 chịu hạn khá kém, đồng thời hiện tại có những giống mới xuất sắc như RRIV 209, RRIV 106 thay thế hoàn hảo cho RRIV 5.

Giống RRIM 600

Nguồn gốc: Có xuất xứ từ Viện Nghiên Cứu Cao Su Malaysia được lai tạo năm 1936. Được công nhận giống sản xuất đại trà năm 1993.

Đặc điểm giống RRIM 600:

  • Sinh trưởng trung bình trong thời gian kiến thiết cơ bản, giai đoạn khai thác phát triển khá.
  • Năng suất đạt từ 1,5 đến 2 tấn/ha/năm với chế độ kích thích mủ theo qui trình.
  • Thân thẳng tròn, tán nhiều cành, không có ưu thế chiều cao. Thường mọc tầng lá liên tục và chậm phân cành.
  • Kháng rét trung bình, kháng gió khá nhưng dễ cong ở giai đoạn giao tán.
  • Dễ nhiễm bệnh nấm hồng, nhiễm nhẹ các bệnh rụng lá mùa mưa, phấn trắng.

Giống RRIM 600 được trồng rất phổ biến ở Malaysia cũng như thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, RRIM 600 vẫn không nổi trội hơn các giống nội của Việt Nam như RRIV 124, RRIV 209 … Do đó để lựa chọn giống tái canh trồng mới bạn nên ưu tiên những giống mới.

Kết Luận

Giống cao su tại Việt Nam đã có những bước tiến lớn về cả năng suất, kháng bệnh, sinh trưởng cũng như trữ lượng gỗ. Các bạn nên lựa chọn những giống cao su mới theo khuyến cáo từ cơ cấu giống phù hợp với vùng trồng cụ thể.

Giống Cao Su

error: Nội dung bị ẩn!