MỦ CAO SU là gì? Lịch sử, sản phẩm cao su thiên nhiên

Những thông tin về mủ cao su, lịch sử sử dụng mủ cao su thiên nhiên, sản phẩm từ cao su thiên nhiên.

Mủ cao su là gì?

Mủ Cây Cao Su

Mủ cao su là một thuật ngữ dùng để chỉ chất lỏng chứa polymer. Còn cao su là hợp chất polymer từ các phân tử izopren. Các polymer có nguồn gốc tự nhiên còn gọi là cao su thiên nhiên. Có nguồn gốc từ dầu mỏ được gọi là cao su tổng hợp.

Nhiều người thường không nhận ra rằng có một sự khác biệt giữa cao su tổng hợp, và mủ cao su tự nhiên. Một chi tiết thú vị là từ “cao su” được sử dụng từ tận thế kỷ 17 bởi Joseph Priestley. Ông sử dụng một mảnh vật liệu có công dụng như một cục tẩy để xóa dấu bút chì. Và Joseph Priestley gọi nó là “cao su”.

Nhà máy sản xuất cao su đầu tiên trên thế giới được thành lập gần Paris vào năm 1803 và có một nhà máy được xây dựng ở Anh vào năm 1820. Năm 1835, Edwin Chafee người Mỹ đã được cấp bằng sáng chế cho một nhà máy trộn và xử lý vật liệu cao su. Năm 1839, Charles Goodyear đã phát hiện ra sự lưu hóa cao su, đây chính là cốt lõi của cuộc cách mạng hóa ngành công nghiệp cao su.

Mủ cao su khai thác từ cây cao su?

Hiện nay, mủ cao su, hay cao su tự nhiên được khai thác từ cây cao su (Hevea brasiliensis). Ngoài ra còn có rất nhiều loài cây cho mủ có đặc tính chất lượng tương đương mủ từ cây cao su (Hevea brasiliensis).

Cây cao su (Hevea brasiliensis)

Nguồn cung cấp cao su thiên nhiên hiện nay là cây cao su (Hevea brasiliensis), một thành viên trong họ Euphorbiaceae. Nhiều loài trong họ Euphorbiaceae đều cho mủ, nhưng cây Cao su (Hevea brasiliensis) được lựa chọn vì phát triển tốt, sản lượng mủ nhiều, phù hợp với các điều kiện canh tác. Đặc biệt là khả năng cho mủ cao su bền bỉ nhiều năm. Vòng đời của cây cao su trong canh tác hiện nay lên đến hơn 30 năm.

Vườn Cây Cao Su

Mủ có được bằng cách tạo ra vết thương trên vỏ thân cây cao su, vết này cắt đứt các ống mủ sau đó thu hồi chất lỏng chảy ra trong một quá trình gọi là khai thác mủ cao su. Sau đó mủ cao su được cô đặc hay đánh đông trở thành nguyên liệu sản xuất thành các sản phẩm từ cao su thiên nhiên. Lượng tạp chất có trong mủ cao su quyết định chất lượng của mủ cao su.

Hiện nay, diện tích cây cao su trên thế giới là hơn 14 triệu ha. Tập trung chủ yếu ở các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam … và các nước Nam Mỹ hay Châu Phi.

Mủ cao su từ cây Bồ Công Anh

Gần đây các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra trong nhựa cây bồ công anh có chứa polymer. Chất mủ này có tính chất, chất lượng tương đương với mủ từ cây cao su (Hevea brasiliensis).

Hàm lượng mủ trong cây bồ công anh hoang dã là rất thấp, thay đổi lớn theo mùa vụ và nơi trồng. Rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để nâng cao lượng mủ cao su có trong cây Bồ Công Anh.

Đến năm 2013, bằng cách ức chế một loại enzyme chủ chốt và sử dụng các phương pháp canh tác hiện đại và kỹ thuật tối ưu hóa, các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học phân tử và Sinh thái học ứng dụng (IME) ở Đức đã phát triển một giống cây bồ công anh biến đổi gen phù hợp cho sản xuất cao su tự nhiên. Phối hợp với Continental Tyres, IME khởi công các khu trồng thí nghiệm trên thực tế.

Các loài cây cho mủ cao su khác

Palaquium-Gutta-&-Manilkara

Các loại cây có thể cho mủ cao su có thể kể đến như Gutta Percha (Palaquium gutta), hay cây Chicle từ Manilkara được sử dụng để làm kẹo cao su. Một số loài cây khác đã được khai thác thương mại, hoặc ít nhất là hứa hẹn là nguồn cao su thay thế, bao gồm cây cao su (Ficus thuna), cây cao su Panama (Castilla thuna), nhiều loại thuộc họ Euphorbia spp. Loài Lactuca, nhiều loài Bồ công anh Taraxacum khác nhau, bao gồm bồ công anh thông thường (Taraxacum docinale) và bồ công anh Nga (Taraxacum kok-saghyz); Guayule Parthenium argentatum.

Hiện nay các nhà khoa học vẫn đang tích cực tìm các nguồn mủ cao su từ các loài cây khác. Với mục đích hạn chế tình trạng dị ứng mủ cao su từ cây cao su (Hevea brasiliensis) đối với người sử dụng.

Lịch sử quá trình sử dụng mủ cao su

Thời kỳ sơ khai

Cao su được sử dụng đầu tiên bởi các nền văn hóa khu vực Mesoamerica trên lưu vực sông Amazon truyền thống của cây cao su. Mesomerica là một khu vực văn hóa cổ xưa ở Bắc Mỹ. Nó kéo dài từ khoảng trung tâm Mexico qua Belize, Guatemala, El Salvador, Honduras, Nicaragua và bắc Costa Rica. Đây cũng là một trong năm khu vực trên thế giới có nền văn minh cổ đại phát triển độc lập và là khu vực thứ hai ở châu Mỹ cùng với nền văn hóa Norte Chico (Caral-Supe) ở Peru ngày nay.

Bằng chứng khảo cổ học sớm nhất về việc sử dụng mủ tự nhiên từ cây Hevea đến từ văn hóa Olmec, trong đó mủ cao su lần đầu tiên được sử dụng để làm bóng cho trò chơi bóng Mes Mesericerican. Cao su sau đó được sử dụng bởi các nền văn hóa Maya và Aztec. Ngoài việc tạo ra những quả bóng, người Aztec sử dụng cao su cho các mục đích khác như làm thùng chứa, làm cho loại vải dệt không thấm nước bằng cách ngâm chúng trong mủ cao su.

Cây cao su hiện nay có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Charles Marie de La Condamine được ghi nhận là người đầu tiên giới thiệu các mẫu cao su cho Académie Royale des Science của Pháp vào năm 1736. Năm 1751, ông đã trình bày một bài báo của François Fresneau cho Académie (xuất bản năm 1755) mô tả nhiều đặc tính của cao su. Đây được coi là bài báo khoa học đầu tiên về cao su.

Ở Anh, Joseph Priestley, vào năm 1770, đã quan sát thấy rằng một mảnh vật liệu cực kỳ tốt để cọ xát bút chì đánh dấu trên giấy, ông chính là người đã khai sinh ra cái tên “cao su”. Năm 1764, François Fresnau đã phát hiện ra rằng nhựa thông là một dung môi cao su. Giovanni Fabbroni được ghi nhận với việc phát hiện ra naphtha như một dung môi cao su vào năm 1779.

Thời kỳ đó Nam Mỹ vẫn là nguồn cung cao su chính, được sử dụng trong phần lớn của thế kỷ 19. Việc buôn bán cao su bị kiểm soát chặt chẽ bởi lợi ích kinh tế mà nó mang lại.

Sir Henry Wickham

Năm 1876, Henry Wickham đã vận chuyển 70.000 hạt giống cây cao su từ Brazil và giao chúng cho Kew Gardens – Anh. Chỉ có 2.400 trong số này nảy mầm.

Cây giống sau đó được gửi đến Ấn Độ, Ceylon Anh (Sri Lanka), Dutch East Indies (Indonesia), Singapore và British Malaya. Malaya (nay là Bán đảo Malaysia) sau đó trở thành nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới.

Đầu những năm 1900, cây cao su được trồng ở những đồn điền tại Congo – Châu Phi, Liberia và Nigeria. Ngoài ra cây cao su còn được trồng ở Ấn Độ khi đó vẫn là thuộc địa của thực dân Anh.

Với những nỗ lực thử nghiệm để trồng cây cao su ở Ân Độ bắt đầu từ năm 1873 tại Vườn Bách thảo Calcutta. Tuy nhiên, các đồn điền cây cao su thương mại đầu tiên được thành lập từ năm 1902 tại Thattekadu – Kerala. Trong những năm sau đó, diện tích cây cao su được mở rộng đến Karnataka, Tamil Nadu và Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Ấn Độ ngày nay là nhà sản xuất lớn thứ 3 thế giới và người tiêu dùng lớn thứ 4 thế giới.

Ở Singapore và Malaya, thương mại Việc sản xuất được thúc đẩy mạnh mẽ bởi Sir Henry Nicholas Ridley, từng là Giám đốc khoa học đầu tiên của Vườn bách thảo Singapore từ năm 1888 đến 1911. Ông đã phân phối hạt cao su cho nhiều người trồng và phát triển kỹ thuật đầu tiên để khai thác cây làm mủ mà không gây hại nghiêm trọng cho cây.Vì sự quảng bá nhiệt tình của cây trồng này, anh được mọi người nhớ đến với biệt danh “Mad Ridley”.

Cây cao su được du nhập vào Việt Nam năm 1878, sau hơn 140 năm phát triển cây cao su Việt Nam đã trở thành cây công nghiệp giá trị nhất. Từng được mệnh danh là “Vàng Trắng” góp phần phát triển kinh tế, xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Trước chiến tranh thế giới lần 2

Charles-Goodyear
Charles-Goodyear

Năm 1839, Charles Goodyear đã phát triển phương pháp lưu hóa cao su. Đây là phương pháp cải thiện tính chất của mủ cao su. Giúp cao su trở nên bền hơn bằng cách nung nóng mủ cao su với lưu huỳnh.

Trước Thế chiến II cao su được sử dụng cho các khớp tiếp xúc cửa sổ, ống, dây đai, miếng đệm, thảm, sàn và bộ giảm chấn cho ngành công nghiệp ô tô. Cao su còn được sử dụng một lượng lớn vào sản xuất lốp xe hơi (ban đầu là rắn chứ không phải khí nén). Găng tay (y tế, gia dụng và công nghiệp) và bóng bay đồ chơi, các sản phẩm phục vụ đời sống như dây cao su hay tẩy bút chì.

Thời kỳ này, mủ cao su còn được sử dụng để sản xuất vải. Tuy nhiên, cao su thiên nhiên sử dụng trong dệt may, có độ bền thấp, dễ bị oxy hóa và hư hại do ánh sáng, dầu, mồ hôi. Hiện nay, ngành công nghiệp dệt may đã chuyển sang neoprene (polymer của chloroprene), sợi elastome, spandex (còn được gọi là elastane) đều là cao su tổng hợp. Những đặc tính của chúng chiếm ưu thế tuyệt đối so với cao su thiên nhiên về độ bền, chống các tác nhân oxy hóa.

Tính chất cao su thiên nhiên

Mủ cao su thể hiện tính chất vật lý và hóa học độc đáo hiếm có, được thể hiện qua 2 hiệu ứng Mullins (được hiểu nôm na là tính đàn hồi) và hiệu ứng Payne (tính bền với các tác nhân khác nhau với các chất độn khác nhau vào cao su tự nhiên).

Các đặc tính này của cao su có được do sự hiện diện của các liên kết C-H allylic bị suy yếu trong mỗi đơn vị lặp lại. Chính vì vậy cao su tự nhiên dễ bị lưu hóa cũng như nhạy cảm với các vết nứt do tác động của ozone. Hai dung môi chính dùng để hòa tan cao su là nhựa thông và naphta (dầu mỏ). Dung dịch amoniac được sử dụng để ngăn chặn sự đông tụ của mủ cao su thô. Nhiệt độ nóng chảy của cao su tự nhiên ở khoảng 180 độ C.

Tính đàn hồi

Đàn hồi là đặc tính quan trọng nhất của cao su. Tính chất này có được nhờ cấu tạo các khớp nối của hợp chất izopren với nhau trong cao su.

Tính đàn hồi của cao su
Tính đàn hồi của cao su

Các phân tử izopren này không phải ở trạng thái dây xích thẳng mà là cuộn rối rắm, nhiều phân tử sẽ tự hợp nhau như một mớ dây hỗn loạn. Vì vậy, chúng ta có thể tưởng tượng khi ta dùng lực kéo căng, chuỗi phân tử rối rắm này sẽ bị căng ra, khi thôi kéo căng, chuỗi phân tử lại co về trạng thái cũ.

Nhược điểm của cấu tạo này là tính đàn hồi chịu ảnh hưởng rất lớn khi nhiệt độ thấp. Nhiệt độ thấp làm thay đổi các góc di chuyển của các phân tử izopren, gây ra các đứt gãy, hay không còn trở lại trạng thái củ khi bị kéo dãn. Lưu hóa là cách để khắc phục nhược điểm này.

Lưu hóa cao su tạo ra các liên kết di- và polysulfide giữa các chuỗi, làm hạn chế mức độ tự do và dẫn đến các chuỗi izopren quay trở lại vị trí ban đầu nhanh hơn. Làm tăng lực đàn hồi liên tục và làm cho cao su cứng hơn và không bị giãn.

Mùi của mủ cao su

Các kho lưu trữ cao su thô, cao su tạp chưa chế biến có thể tạo ra mùi khá khó chịu, đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Đây là một mùi không mấy dễ chịu đối với nhiều người.

Mùi này xuất phát khi các tạp chất hữu cơ có trong mủ cao su được các vi sinh vật phân hủy tạo ra các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi. Hay khi sấy nướng chế biến mủ cao su thô. Các hợp chất này chứa khá nhiều lưu huỳnh, amoniac, anken, xeton, este, hydro sunfite, nitơ và axit béo phân tử thấp (C2-C5).

Ngoài khi cô đặc mủ cao su thô trong quá trình sản xuất cao su, axit sulfuric được sử dụng để làm đông. Điều này tạo ra hydro sunfua không điều hòa, một hợp chất khá độc hại.

Do đó để hạn chế các mùi không mấy dễ chịu này thường các nhà máy chế biến mủ cần xa khu dân cư và đảm bảo các hệ thống xử lý mùi và nước thải đúng quy chuẩn nhà nước ban hành.

Cấu tạo và sinh tổng hợp mủ cao su

Cấu tạo mủ cao su

Mủ cao su là hợp chất polymer cis-1,4-polyisoprene – có trọng lượng phân tử từ 100.000 đến 1.000.000 dalton. Ngoài ra trong mủ cao su có một tỷ lệ nhỏ (tối đa 5% khối lượng khô) của các vật liệu khác, chẳng hạn như protein, axit béo, nhựa và vật liệu vô cơ (muối).

Một số nguồn cao su tự nhiên khác, chẳng hạn như Gutta Percha, có thành phần chủ yếu là trans-1,4-polyisoprene, một đồng phân cấu trúc có tính chất tương tự như ở mủ cao su từ cây cao su (Hevea brasiliensis).

Cao su tự nhiên là một chất đàn hồi, dẻo nhưng không bền. Cho nên đa số các sản phẩm cao su hiện nay đều đã được lưu hóa. Nó giúp cao su tự nhiên mang những đặc tính khác biệt với nguyên bản cao như chịu nóng và làm mát. Các đặc tính của cao su có được sau khi lưu hóa phụ thuộc vào chất điều biến và chất độn, chẳng hạn như muội than, factice và các chất độn khác.

Sinh tổng hợp mủ cao su

Các hạt mủ cao su được hình thành trong tế bào chất của các tế bào sản xuất mủ chuyên dụng gọi là laticifers trong cây cao su. Các hạt cao su được bao quanh bởi một màng phospholipid duy nhất có đuôi kỵ nước hướng vào trong. Màng cho phép các protein sinh tổng hợp được cô lập ở bề mặt của hạt cao su đang phát triển, cho phép các đơn vị đơn phân tử mới được thêm vào từ bên ngoài màng sinh học.

Sinh tổng hợp cao su
Sinh tổng hợp cao su

Hạt mủ cao su là một thực thể hoạt động như một enzyme có chứa ba lớp vật liệu, hạt cao su, một sinh khối và các đơn vị đơn phân tự do. Biembrane được giữ chặt vào lõi cao su do điện tích âm cao dọc theo liên kết đôi của xương sống cao su polymer.

Các đơn vị tự do và protein liên hợp tạo nên lớp ngoài. Tiền chất cao su là isopentenyl pyrophosphate (một hợp chất allylic), kéo dài bởi sự ngưng tụ phụ thuộc Mg2 + do tác dụng của transferase cao su. Các monome thêm vào pyrophosphate cuối của polymer đang phát triển.

Quá trình này thay thế pyrophosphate năng lượng cao cuối cùng. Phản ứng tạo ra một polymer cis. Bước khởi đầu được xúc tác bởi prenyltransferase, chất chuyển đổi ba monome của isopentenyl pyrophosphate thành farnesyl pyrophosphate.Các pyrophosphate farnesyl có thể liên kết với transferase cao su để kéo dài một polymer cao su mới. Các isopentenyl pyrophosphate cần thiết thu được từ con đường mevalonate, có nguồn gốc từ acetyl-CoA trong cytosol. Trong thực vật, isopren pyrophosphate cũng có thể thu được từ con đường 1-deox-D-xyulose-5-phosphate / 2-C-methyl-D-erythritol-4-phosphate trong plasmid.

Tỷ lệ tương đối của đơn vị khởi tạo farnesyl pyrophosphate và monome kéo dài isoprenyl pyrophosphate xác định tốc độ tổng hợp hạt mới so với độ giãn dài của các hạt hiện có. Mặc dù cao su được biết là chỉ được sản xuất bởi một loại enzyme, nhưng chất chiết xuất từ mủ chứa nhiều protein trọng lượng phân tử nhỏ với chức năng chưa biết. Các protein có thể đóng vai trò là đồng yếu tố, vì tốc độ tổng hợp giảm khi loại bỏ hoàn toàn.

Sản xuất

Hơn 28 triệu tấn cao su đã được sản xuất trong năm 2017, trong đó khoảng 47% là tự nhiên. Do phần lớn là tổng hợp, có nguồn gốc từ dầu mỏ, nên giá cao su tự nhiên được xác định, ở một mức độ lớn, bằng giá dầu thô hiện nay trên toàn cầu.

Châu Á là nguồn cung cấp cao su tự nhiên chính, chiếm khoảng 94% sản lượng trong năm 2005. Ba nhà sản xuất lớn nhất là Thái Lan, Indonesia (2,4 triệu tấn) và Malaysia, cùng chiếm khoảng 72% tổng sản lượng cao su tự nhiên. Cao su tự nhiên không được trồng rộng rãi ở lục địa Nam Mỹ do sự tồn tại của bệnh cháy lá Nam Mỹ và các loài săn mồi tự nhiên khác.

Canh tác cây cao su

Mủ cao su hay cao su thiên nhiên hiện nay được khai thác từ cây cao su Mủ cao su được chiết xuất từ cây cao su (Hevea brasiliensis). Vòng đời cây cao su trong sản xuất kinh doanh thường trên 30 năm. Chia làm 2 giai đoạn chính, giai đoạn kiến thiết cơ bản (trưởng thành sinh trưởng) từ 6 – 7 năm. Giai đoạn khai thác từ 20 đến 25.

Giống Cao Su RRIV 209 2 năm tuổi đất xám

Cây cao su yêu cầu của đất là thoát nước tốt, đất phong hóa bao gồm đá ong, các loại đá ong, các loại trầm tích, đất đỏ không phù sa hoặc đất phù sa. Lượng mưa khoảng 250 cm phân bố đều mà không có mùa khô rõ rệt và với ít nhất 100 ngày mưa mỗi năm. Nhiệt độ khoảng 20 đến 34 độ C, với trung bình hàng tháng từ 25 đến 28 độ C. Độ ẩm khí quyển khoảng 80%. Khoảng 2000 giờ nắng mỗi năm với tốc độ sáu giờ mỗi ngày trong suốt cả năm, không có gió mạnh.

Với nhiều tiến bộ về tạo tuyển giống mà hiện nay các giống cao su (dòng vô tính) có những đặc điểm nổi trội về năng suất cũng như trữ lượng gỗ. Như RRIV 209, RRIV 106 có thể đạt năng suất 3.000 kg/ha/năm trong điều kiện lý tưởng.

Khai thác mủ cao su

Ở Việt Nam, cây cao su được mở cạo đưa vào giai đoạn khai thác sau 6 – 7 năm trưởng thành. Cây đưa vào khai thác theo tiêu chuẩn phải có chu vi vòng thân đo cách mặt đất 1m lớn hơn hoặc bằng 50cm. Độ dày của vỏ đo cách mặt đất 1m phải từ 6mm trở lên.

Cạo mủ cao su
Cạo mủ cao su

Mặt cạo vỏ thân cây có góc nghiêng 32 độ với mặt cắt ngang nằm ở độ cao cách mặt đất 1,3m. Với nhịp độ cao theo qui định của Tập Đoàn CNCS Việt Nam là 3 ngày 1 phiên cạo (nhịp độ cạo D3) hay 4 ngày 1 phiên cạo (nhịp độ cạo D4).

Thời gian thực hiện cạo mủ là sáng sớm, tránh ngày thời tiết mưa. Cạo cần cách thượng tầng 1mm đến 1,3mm. Tránh cạo cạn (không khai thác hết mủ), cạo sát, hay cạo phạm (cạo vào tầng gỗ).
Hao dăm vỏ tối đa là 18 cm/năm với chế độ d3 và 15 cm/năm với chế độ d4. Tối đa hao dăm vỏ cạo là 3 cm – 4,5 cm/ tháng.

Phân loại mủ cao su thô

Mủ nước

Giá Mủ Cao Su

Mủ nước là sản phẩm có chất lượng cao nhất trong khai thác mủ cao su. Mủ nước có độ tinh kiết cao, ít lẫn tạp chất, được sử dụng để chế biến nhiều loại mủ cao su có chất lượng cao điển hình là latex cô đặc.

Mủ đông tự nhiên

Được hình thành khi mủ nước được để đông tự nhiên. Có thể là mủ chảy lại sau khi thu hoạch mủ. Hay mủ nước được để cho đông tự nhiên, loại mủ này tương đối tinh kiết, lẫn ít tạp chất. Được sử dụng để chế biến đa số các sản phẩm SVR hay STR.

Mủ dây

Mủ dây là sợi mủ được bóc ra trên miệng cạo, thường thu được trong quá trình cạo cây cao su. Nó thường có hàm lượng đồng và mangan cao hơn so với mủ nước và mủ đông tự nhiên. Cả đồng và mangan đều là chất chống oxy hóa và có thể làm hỏng tính chất vật lý của cao su khô.

Mủ tạp

Mủ Đông Cao Su

Mủ tạp thường được tìm thấy xung quanh thân cây, nó chính là lượng mủ tràn hay rơi rớt từ cây cạo xuống. Nó chứa rất nhiều tạp chất, chủ yếu là đất. Hàm lượng cao su trong mủ tạp có sự thay đổi, tùy thuộc vào lượng tạp chất. Thường mủ tạp được thu hai đến ba lần một năm. Mủ tạp được làm sạch trong máy rửa để thu hồi cao su.

Chế biến mủ cao su

Mủ nước sau khi thu hoạch được chuyển về nhà máy sản xuất. Tại nhà máy mủ được chuyển vào các thùng rây kín khí để khử ammoniac có trong mủ. Tiếp theo mủ được xử lý thành mủ cô đặc để sản xuất các sản phẩm nhúng hoặc đông tụ bằng axit formic. Sau đó, mủ đông tụ được xử lý thành các loại cao su khối kỹ thuật cao như SVR 3L hoặc SVR CV hoặc được sử dụng để sản xuất các loại mủ tấm xông khói.

Mủ Cao Su Tờ

Mủ đông tự nhiên, mủ dây, hay mủ tạp được xử lý làm sạch để sản xuất cao su TSR 10 và TSR 20. Quá trình xử lý này để loại bỏ tạp chất, giảm kích thước để bước vào giai đoạn sấy cuối cùng.
Các thành phẩm sẽ được đóng kiện và đóng gói để lưu trữ và giao hàng.

Lưu hóa cao su

Cao su tự nhiên thường được lưu hóa, một quá trình mà cao su được làm nóng và lưu huỳnh, peroxide hoặc bisphenol được thêm vào để cải thiện sức đề bền, độ đàn hồi và để ngăn chặn nó bị hư hỏng. Carbon đen thường được sử dụng làm phụ gia cho cao su để cải thiện sức mạnh của nó, đặc biệt là trong lốp xe, chiếm khoảng 70% (gần 9 triệu tấn) sản xuất muội than.

Vận chuyển

Mủ cao su tự nhiên thành phẩm được vận chuyển buôn bán khắp thế giới. Hiện nay các sàn giao dịch chính của cao su có thể kể đến như sàn giao dịch Singapore, Tocom – Nhật Bản hay sàn Thượng Hải.
Các kiện mủ cao su được đóng container để vận chuyển trong khi mủ cô đặc latex được vận chuyển trong các bồn chứa.

Các sản phẩm sử dụng mủ cao su

Nhờ các đặc tính đàn hồi, bền, cách điện, chống nước mà cao su tự nhiên được sử dụng rất phong phú trong nhiều ngành nghề sản xuất hiện nay.

  • Tính linh hoạt của cao su là hấp dẫn trong ống, lốp xe và con lăn cho các thiết bị khác nhau, từ máy vắt quần áo trong nước đến máy in.
  • Tính đàn hồi của nó làm cho nó phù hợp với các loại giảm xóc khác nhau và cho các giá đỡ máy móc chuyên dụng được thiết kế để giảm rung.
  • Tính không thấm khí tương đối của nó làm cho nó hữu ích trong việc sản xuất các vật phẩm như ống khí, bóng bay, bóng và đệm.
  • Sự kháng nước của cao su với nước và tác động của hầu hết các hóa chất lỏng đã dẫn đến việc sử dụng nó trong quần áo mưa, dụng cụ lặn, và ống hóa chất và dược liệu, và làm lớp lót cho bể chứa, thiết bị xử lý và xe bồn đường sắt.
  • Do tính kháng điện của chúng, hàng cao su mềm được sử dụng làm vật liệu cách nhiệt và làm găng tay, giày và chăn bảo vệ; cao su cứng được sử dụng cho các vật phẩm như vỏ điện thoại, các bộ phận cho bộ đàm, mét và các dụng cụ điện khác.
  • Hệ số ma sát của cao su, cao trên bề mặt khô và thấp trên bề mặt ẩm ướt, dẫn đến việc sử dụng nó cho dây đai truyền tải điện và cho vòng bi bôi trơn bằng nước trong máy bơm giếng sâu.
  • Mủ cao su latex cao cấp nhất dùng để sản xuất bao cao su, găng tay y tế, các sản phẩm có giá trị cao khác.
  • Cao su tự nhiên cung cấp độ đàn hồi tốt, trong khi các vật liệu cao su tổng hợp có xu hướng cung cấp sức đề kháng tốt hơn với các yếu tố môi trường như dầu, nhiệt độ, hóa chất và tia cực tím.

Dị ứng cao su

Dị ứng mủ cao su là một thuật ngữ y học bao gồm một loạt các phản ứng dị ứng với các protein có trong mủ cao su tự nhiên. Dị ứng mủ cao su thường xuất hiện khi tiếp xúc với các sản phẩm mủ cao su tự nhiên gây ra hiện tượng sốc phản vệ. Các sản phẩm cao su có nguy cơ cao gây ra dị ứng là găng tay cao su và bao cao su.

Nguyên nhân chủ yếu là các protein kháng nguyên được tìm thấy trong mủ Hevea còn lại gây ra. Mủ từ các nguồn không phải Hevea, như Guayule, có thể được sử dụng mà không có phản ứng dị ứng bởi những người bị dị ứng với mủ cây Hevea.

Một số phản ứng dị ứng không phải do các protein có trong mủ cao su, mà từ dư lượng hóa chất được sử dụng trong quá trình sản xuất mủ cao su cũng như sản xuất các sản phẩm cao su.

Vi sinh vật phân hủy cao su tự nhiên

Cao su tự nhiên dễ bị phân hủy bởi một loạt các vi khuẩn Streptomyces coelcolor, Pseudomonas citronellolisNocardia spp có khả năng làm suy giảm cao su tự nhiên lưu hóa.

Kết Luận

Hi vọng bài viết đã khái quát được chi tiết về mủ cao su tự nhiên. Do bài viết khá dài được dịch thuật, chỉnh sửa từ wiki nên có nhiều thiếu sót. Hi vọng nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các bạn.

Giống Cao Su & Wiki