Tất tần tật về cây cao su tại Việt Nam

Tất tần tật về cây cao su tại Việt Nam. Đặc tính , lịch sử phát triển, sản phẩm giá trị của cây cao su tất cả được tổng hợp trong bài viết này.

Giới thiệu

Cây cao su từng có một giai đoạn được mệnh danh là vàng trắng tại Việt Nam. Với những sản phẩm mang lại giá trị kinh tế cao là mủ cao su và gỗ cao su. Hiện nay, giá cao su không còn ở thời kỳ vàng son. Nhưng cây cao su vẫn khẳng định được giá trị của mình trong nền nông nghiệp Việt Nam. Bài viết này GCS cố gắng tổng hợp đầy đủ nhất những thông tin về cây cao su, giúp các bạn có cái nhìn toàn diện về ngành cao su Việt Nam.

Cây cao su tại Việt Nam

Có một sự thật thú vị đó là cây cao su không phải là loài duy nhất cho mủ. Tuy nhiên nó là loài đáp ứng tốt nhất về mặt kinh tế cho quá trình khai thác mủ.

Cây cao su 2 năm tuổi.

Hevea brasiliensis muell. Arg chính là tên khoa học của cây cao su được trồng phổ biến ở Việt Nam và thế giới với mục đích khai thác mủ cao su.

Nguồn gốc

Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis Muell. Arg.  thuộc chi Hevea, họ Euphorbiaceae (họ Thầu Dầu). Trong chi Hevea, còn có 9 loài khác đều cho mủ nhưng chỉ có loài Hevea brasiliensis là có ý nghĩa về kinh tế, do đó được trồng rộng rãi nhất.

Nguyên quán nằm trên lưu vực sông Amzon trải dài từ vĩ độ 15 độ Nam đến 60 độ Bắc, giữa kinh độ 46 độ Tây và 77 độ Đông. Diện tích trên bao gồm các quốc gia Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, Surinam và French Guyana.

Hiện nay cây cao su được trồng trải dài trên một diện tích rộng lớn từ Đông Nam Á, Châu Phi. Sau đó diện tích cao su đã được mở rộng từ vĩ tuyến 23 độ Nam (São Paulo, Brazil) đến vĩ tuyến 29 độ Bắc (Ấn Độ, Myanmar và Trung Quốc) với cao trình có thể lên đến 1.100 m. Tại Việt Nam, cây cao su đã được trồng ra các vùng phi truyền thống như các tỉnh Nam Trung bộ, Bắc Trung Bộ và các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 2010.

Đặc điểm thực vật học

Thân

Cao su là loài thân gỗ, sinh trưởng nhanh, trong hoang dại cây có thể cao 30 – 50 mét, đường kính thân lên đến 5 – 7 mét. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất, chiều cao cây tối đa chỉ từ 25 – 30 mét với đường kính thân đạt xấp xỉ 1 mét.

Mủ Cao Su

Có một đặc điểm thú vị về hình dạng của thân ở cây thực sinh (hoang dại) và các giống cao su lai ghép. Đó là sự khác nhau ở phần sát gốc cây. Đối với cây thực sinh hoang dại có hình dáng bình thường, trụ đúng thon tròn. Còn với cây lai ghép có dạng chân voi do vết chồi mắt ghép để lại.

Vỏ

Một trong những bộ phận quan trọng nhất trên cây cao su vì đây là diện tích dùng để khai thác mủ cao su.

Cấu tạo của vỏ thân bao gồm 4 lớp là biểu bì, nhu mô, tượng tầng, gỗ. Trong đó, phân nhu mô là quan trọng nhất do có chứa rất nhiều ống mủ gồm ống mủ sơ cấp và ống mủ thứ cấp. Ống mủ sơ cấp trong tầng vỏ không liên quan gì với ống mủ thứ cấp và hầu như không cho mủ.

Ống mủ thứ cấp chính là nơi sản sinh chính lượng mủ của cây. Bộ phận quan trọng này ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ khai thác. Ở những giống cao su khác nhau có độ dày võ khác nhau, và có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình khai thác mủ cao su.

Lá cao su

Lá Cao su là lá kép gồm có 3 lá chét với phiến lá nguyên mọc cách, cuống lá dài có hình bầu dục, đuôi nhọn, mặt nhẵn có gân song song. Tán lá thường có hình chóp mủ, và có nhiều kiểu hình, màu sắc hình dạng tùy thuộc vào giống.

Lá Cây Cao Su

Đặc biệt cây cao su có thời kỳ rụng lá sinh lý vào mùa đông. Bắt đầu vào cuối tháng 11 hàng năm, lá rụng hoàn toàn sau đó ra lại toàn bộ lá mới. Hình thức thay lá từng phần hay đồng loạt, thời gian thay lá cũng có sự khác biệt ở các giống cao su khác nhau.

Hoa, trái, hạt cao su

Hoa Cây Cao Su
  • Hoa cao su thuộc loại đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng. Trong một chùm hoa có số lượng hoa đực nhiều gấp 50 lần hoa cái. Sau khoảng thời gian từ 5 – 6 năm cây mới có hoa quả, thường nở vào mùa xuân. Sau 48 giờ nở phấn hoa mất sức sống, nhìn chung khả năng thụ tinh của cây là khá thấp.
  • Trái cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài. Cao su có 2 mùa ra trái, mùa chính tháng 8 – 9, và mùa phụ tháng 2 – 3 hàng năm.
  • Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, hạt chưa 20% protit, 25% dầu… Nếu thu hoạch hạt cao su để trồng cây gốc ghép nên sử dụng sau thu hoạch 3 – 4 tuần để đạt tỷ lệ nảy mầm tốt nhất.
Trái cao su và hạt cao su khi chính
Trái cao su và hạt cao su khi chính
Trái Cao Su

Rễ

Cây cao su có 2 loại rễ

  • Rễ cái: to, khoẻ, dài từ 3 đến 5m, cắm sâu vào lòng đất để hút nước, và giúp thân cây đứng vững.
  • Rễ bàng: là vô số rễ nhỏ mọc quanh đoạn có rễ, phân nhánh đan qua chéo lại như một mạng lưới hút các chất bổ dưỡng ở tầng đất mặt để nuôi cây. Rễ bàng tuy nhỏ mà nhiều, bên trên tán lá vươn ra đến đâu thì dưới đất rễ bàng mọc lan đến đó. Vì vậy, khi cày bừa để diệt cỏ trong lô ta nên cày với độ cạn khoảng 10 phân để tránh làm đứt rễ bàng.

Thông thường hễ thân cây cao thì rễ chuột càng dài. Tuy nhiên, do hiện nay các phương pháp trồng cao su chủ yếu là cây ươm bầu do đó ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ trên cây.

Đặc điểm di truyền

Cây cao su có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36, một dạng tứ bội với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 9. Các đặc tính như sinh trưởng, sản lượng, khả năng kháng bệnh đều do những tính trạng đa gen, di truyền theo phương phức cộng hợp và khả năng phối hợp chung quan trọng hơn khả năng phối hợp riêng.

Hiện nay, đa số các giống cao su được trồng phổ biến tại Việt Nam cũng như trên thế giới đến từ 22 cây cao su do H. Wickham du nhập vào Singapore năm 1877. Đến năm 1981 để khắc phục vấn đề di truyền hạn hẹp, xói mòn gen qua các quá trình dòng vô tính của 22 cây ban đầu. Hiệp hội nghiên cứu và phát triển cao su quốc tế (IRRDB) tiến hành sưu tập các giống loài Hevea từ vùng nguyên quán Amazon tại vùng Acre, Rondonia và Mato Grosso.

Với nguồn gen phong phú, cùng những cải tiến vượt bậc trong công tác tạo tuyển giống tại Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Đã cho ra đời những dòng vô tính xuất sắc, đa dạng như RRIV 209, RRIV 106, RRIV 103, RRIV 124

Điều kiện sinh thái

Vùng sinh thái tự nhiên của cao su thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm, khá đa dạng. Cây thích hợp với vùng có lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô từ 1 đến 5 tháng, số ngày mưa thích hợp là khoảng 100 – 150 ngày/năm và phân bố đều trong năm.

Đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1.500 mm/năm thì lượng mưa cần phải phân bố đều trong năm, đất phải có khả năng giữ nước tốt.

Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây là 25 – 30 độ C. Nếu nhiệt độ >40 độ C cây héo, nhiệt độ <10 độ C cây có thể chịu đựng được trong thời gian ngắn, nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như lá héo, rụng, chồi ngọn ngưng phát triển, vỏ thân bị nứt nẻ, xì mủ. Nhiệt độ <5 độ C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây.

Vườn nhân giống cây cao su
Vườn nhân giống cây cao su

Cây trưởng thành có sức chịu hạn tốt, phát triển tốt nhất trong điều kiện có 1.600 – 1.700 giờ nắng/năm và điều kiện gió nhẹ (1 – 3 m/s), nếu tốc độ gió lớn hơn 17 m/s thì cây sẽ bị gãy đổ.

Cây cao su ưa đất hơi chua với pH đất khoảng 4,5 – 5,6 và không chịu ngập. Đất trồng cao su có độ dốc không quá 30 độ, yêu cầu hóa tính đất không quá khắt khe nhưng lý tính đòi hỏi phải có tầng đất canh tác từ 1 mét trở lên (lý tưởng là 2 mét).

Trong đó không có đặc điểm trở ngại nào cho sự tăng trưởng của rễ như lớp thủy cấp treo, lớp laterit hóa dầy đặc hay lớp đá tảng, thành phần sét ở lớp đất mặt (0 – 30 cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn (>30 cm) tối thiểu 25%.

Bạn có thể tham khảo qua vùng trồng cao su phổ biến ở Việt Nam.

Giai đoạn phát triển của cây Cao su trong canh tác

Trong điều kiện canh tác, chu kỳ vòng đời cây cao su từ 25 đến 30 năm, chia làm 2 thời kỳ chính.

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: từ khi trồng đến lúc vườn cây đưa vào khai thác mủ. Giai đoạn này thường kéo dài từ 6 – 9 năm tuỳ giống cao su và điều kiện trồng.

Thời kỳ kinh doanh: kéo dài trong 20 – 25 năm. Được chia làm 3 nhóm cây dựa theo số năm khai thác. Mục đích để tiện chăm sóc và hoạch định sản lượng khai thác.

  • Vườn cây nhóm I (vườn cây tơ): ở năm cạo thứ 1 đến 10.
  • Vườn cây nhóm II (vườn cây trung niên): ở năm cạo thứ 11 đến 17.
  • Vườn cây nhóm III (vườn cây già, thanh lý): ở năm cạo thứ 18 trở đi.

Lịch sử cây cao su tại Việt Nam

Bầu giống cây cao su
Bầu giống cây cao su

Những cây cao su đầu tiên ở Việt Nam được trồng tại Thảo Cầm Viên. Chúng được bác sĩ Yesin trồng thử ở Suối Dầu (Long Khánh – Đồng Nai hiện nay), và ở đây cũng lưu trữ vườn cao su lâu đời nhất Việt Nam.

Lịch sử ngành cao su tại Việt Nam có thể chia ra thời kỳ rõ ràng, gắn với những mốc lịch sử. Cụ thể ở đây là trước năm 1975 và sau ngày thống nhất đất nước 30/04/1975.

Trước năm 1975

  • Cây cao su được thực dân Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1878 trồng tại Thảo Cầm Viên hiện nay.
  • Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong đó sống được 1600 cây , 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 được bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (Nay là Long Khánh – Đồng Nai).
  • Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây – Long Khánh – Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin… Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
  • Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.
  • Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
  • Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cao su ở khu vực này.
  • Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ).

Sau năm 1975

  • Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.
  • Từ 1977, cao su được trồng mới tại Tây Nguyên. Bắt đầu từ các nông trường quân đội, sau 1985 là các nông trường quốc doanh. Từ 1992 đến nay có sự tham gia của tiểu điền. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng Trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.
  • Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.
  • Theo số liệu của VRA, đến cuối năm 2012 tổng diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 910.500 ha với sản lượng ước đạt 863.600 tấn. Nắm giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.
  • Số liệu tổng quan về tình hình ngành cao su các nước thành viên ANRPC năm 2017. Diện tích cây cao su ở Việt Nam là 969.700 ha với sản lượng đạt 1.094.500 tấn.
  • Đến năm 2019, VRG đưa ra kế hoạch qui hoạch diện tích cao su Việt Nam. Đưa diện tích cao su về mức 300.000 đến 320.000 ha trong năm 2025. Với diện tích trong nước từ 185.000 đến 200.000 ha, nước ngoài 115.000 ha.

Sản phẩm của Cây cao su

Sản phẩm chính của cây cao su chính là mủ cao su, bên cạnh đó là gỗ cao su thu hoạch được ở cuối chu kỳ khai thác.

Mục đích chính của việc trồng cao su đó chính là mủ cao su. Một sản phẩm có giá trị cao và được sử dụng rộng khắp đặc biệt trong ngành công nghiệp ô tô.

Mủ cao su

Đây chất lỏng chứa các polymer tự nhiên được sinh ra khi vỏ cây cao su bị tổn thương. Công dụng chính của mủ cao su là chất hàn kín các tổn thương trên cây, ngăn nấm và vi khuẩn, vi rút xâm nhập vào cây.

Tuy nhiên, mủ cao su lại đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp ô tô, lốp xe, sản phẩm băng truyền cho tới găng tay hay bao cao su.

Khai thác mủ cao su
Khai thác mủ cao su

Cây cao su hiện nay được trồng thâm canh để khai thác mủ cao su. Ưu tiên chọn giống cao su trên thế giới hay Việt Nam đều là mủ. Hiện nay còn là trữ lượng gỗ ở cuối chu kỳ khai thác.

Quá trình để thu mủ cao su được gọi là quá trình khai thác mủ (cạo mủ cao su). Sử dụng một vết cắt ngang bề mặt thân cây, cắt đứt các ống mủ. Mủ cao su được sinh ra và được thu vào những chén đựng mủ.

Các bạn có thể đọc chi tiết bài viết về mủ cao su tại đây.

Đối với người trồng cao su sản lượng mủ và giá cao su là những thông tin được quan tâm hàng đầu. Ngoài ra hiện nay cây cao su mang đến một sản phẩm rất có giá trị khác đó là gỗ cao su.

Gỗ cao su

Trong một vài năm trở lại đây, gỗ cao su trở thành sản phẩm có giá trị cao. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá mủ cao su xuống thấp trong thời gian dài. Trong khi đó, các sản phẩm gỗ cao su ngày càng được ưu chuộng trên thị trường. Do các biện pháp về mặt bảo vệ môi trường, nên gỗ thiên nhiên ngày càng khó sản xuất. Khi đó gỗ cao su được coi là mặt hàng thay thế khá tốt với chất lượng tương đối tốt.

Chi tiết về gỗ cao su bạn có thể đọc tại đây.

Ngành cao su Việt Nam

Tập Đoàn Công Nghiệp Cao Su Việt Nam (VRG) được thành lập tái cơ cấu từ Tổng Công Ty Cao Su Việt Nam. Ngày 30/10/2006 Chính phủ đã có Quyết định 248/2006/QĐ-TTg Phê duyệt Đề án thí điểm hình thành VRG.

Đây chính là đơn vị quản lý, qui hoạch các dự án cao su trồng tại Việt Nam. VRG chủ yếu trồng, chế biến, kinh doanh cao su, chế biến gỗ nhân tạo, công nghiệp cao su. Đầu tư kinh doanh khu công nghiệp, khu công nghệ cao theo chính sách của chính phủ.

Đơn vị quản lý và sản xuất giống cao su tại Việt Nam

Ban Quản Lý Kỹ Thuật – trực thuộc VRG chính là đơn vị đưa ra cơ cấu giống cao su cho toàn ngành cao su Việt Nam.

Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam (RRIV) là một đơn vị nghiên cứu trực thuộc VRG. Với nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển kỹ thuật cây cao su. Trong đó có giống, sinh lý, BVTV, nông hóa, chuyển giao kỹ thuật theo chỉ đạo của VRG.

Phòng Nghiên cứu Di truyền – Giống là đơn vị lai tạo, cung cấp giống cao su chất lượng. Đây được coi là địa chỉ đầu nguồn của cây giống cao su.

Giống cao su

Việt Nam hiện là nước có vườn lưu trữ bộ gen cây cao su lớn nhất thế giới. Giống cao su Việt Nam  hiện nay gồm các giống nhập nội và lai tạo trong nước.

  • Các giống nhập nội phổ biến có thể kể đến như PB 260, PB 235, RRIM 600 từ Malaysia. RRIC 121, RRIC 100 của Sri Lanka, các giống đầu RRII từ ấn độ.
  • Các giống lai tạo tại Việt Nam có tên bắt đầu từ RRIV như RRIV 209, RRIV 106, RRIV 103.

Tất nhiên GCS cũng đã có một bài hướng dẫn chi tiết cách chọn giống cao su phù hợp với bạn.

Vùng trồng cao su ở Việt Nam

Việt Nam đứng thứ 3 thế giới với 969.700 ha cây cao su ( diện tích thu hoạch 653.200 ha). Sản lượng mủ cao su 1.094.500 tấn với năng suất trung bình đạt 1.676 kg/ha/năm. (Tất cả số liệu nguồn VRA năm 2017)

Hiện nay tại Việt Nam cây cao su được trồng ở những vùng chính dưới đây.

Bản Đồ Vùng Trồng Cây Cao Su Việt Nam

Đông Nam Bộ

Đây được coi là vùng truyền thống trồng cao su từ thời Pháp đến nay.

  • Diện tích là 548.864 ha (2017) chiếm 56.6% diện tích cao su cả nước.
  • Sản lượng đạt 777.243 tấn (2017), sản lượng chiếm 71% đứng đầu cả nước. Với năng suất trung bình đạt 1.863 kg/ha/năm (2017). 

Diện tích cao su ở Đông Nam Bộ trải dài qua các tỉnh Bình Phước 237.568 ha, Bình Dương 133.998 ha, Tây Ninh 100.437 ha, Đồng Nai 51.272 ha, Bà Rịa – Vũng Tàu 21.725 ha, TP. Hồ Chí Minh 3.733 ha. Đặc biệt thống kê có Long An 131 ha cây cao su.

Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng trồng cao su đứng thứ hai sau Đông Nam Bộ.

  • Diện tích chiếm 249.014 ha đạt 26% tổng diện tích (2017).
  • Sản lượng đạt 215.374 tấn chiếm 19.7% với năng suất trung bình đạt 1.412 kg/ha/năm (2017).

Diện tích cao su vùng Tây Nguyên tập trung ở các tỉnh Kom Tum 74.756 ha, Gia Lai 100.356 ha, Đắk Lắk 38.381 ha, Đắk Nông 26.348 ha, Lâm Đồng 9.173 ha.

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung là vùng phi truyền thống của cây cao su.

Diện tích trồng cao su là 141.461 ha chiếm 14.6% (2017), năng suất trung bình đạt 1.237 kg/ha/năm.

Tập trung ở các tỉnh Thanh Hóa 14.889 ha, Nghệ An 11.698 ha, Hà Tĩnh 9.479 ha, Quảng Bình 14.152 ha, Quảng Trị 19.511 ha, Thừa Thiên Huế 8.907 ha, Quảng Nam 12.890 ha, Quảng Ngãi 1.639 ha, Bình Định 54 ha, Phú Yên 4.775 ha, Khánh Hòa 428 ha, Ninh Thuận 338 ha, Bình Thuận 42.700 ha.

Miền Núi Phía Bắc

Cây cao su được trồng ở Miền Núi Phía Bắc từ năm 2010 đến nay.

Diện tích 30.347 ha chiếm 3.1%, sản lượng đạt 1.917 tấn với năng suất trung bình đạt 732 kg/ha/năm (2017).

Ở miền núi phía Bắc cao su được trồng ở các tỉnh Hà Giang 1.514 ha, Lào Cai 2.858 ha, Yên Bái 2.280 ha, Phú Thọ 17 ha, Điện Biên 4.959 ha, Lai Châu 12.679 ha, Sơn Lai 6.039 ha.

Tổng kết

Để thành công với cây cao su ngoài yếu tố cực kỳ quan trọng là giống cao su. Thì bạn cần đáp ứng và thực hiện đúng kỹ thuật. Từ chăm sóc KTCB, đến khai thác, phân bón, BVTV, kích thích mủ cao su. Kế đến đó chính là diễn biến giá cao sugiá gỗ cao su, đây là 2 yếu tố tác động trực tiếp đến lợi nhuận người trồng cao su.

Hi vọng bài viết sẽ cung cấp cho các bạn một cách chi tiết về cây cao su.

GCS