Cây Cao Su (Hevea brasiliensis Muell. Arg.)

Cây cao su một trong những cây công nghiệp phổ biến tại Việt Nam. Một thời được mệnh danh là vàng trắng của ngành nông nghiệp. Hiện nay, cây cao su được trồng rộng khắp góp phần không nhỏ cho ngành nông nghiệp Việt Nam.

Nguồn gốc cây Cao su

Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis Muell. Arg.  thuộc chi Hevea, họ Euphorbiaceae (họ Thầu Dầu). Trong chi Hevea, còn có 9 loài khác đều cho mủ nhưng chỉ có loài Hevea brasiliensis là có ý nghĩa về kinh tế, do đó được trồng rộng rãi nhất.

Nguồn gốc cây cao su nằm trong giới hạn vĩ độ 15 độ Nam đến 60 độ Bắc, giữa kinh độ 46 độ Tây và 77 độ Đông ( lưu vực sông Amazon). Diện tích trên bao gồm các quốc gia Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, Surinam và French Guyana.

Cây cao su được trồng thành công cho mục đích kinh doanh trên địa bàn rộng lớn ở Đông Nam Á có cùng vĩ tuyến và điều kiện khí hậu tương tự vùng nguyên quán. Ở Việt Nam cây Cao su được trồng phổ biến nhất đó là Đông Nam bộ, kế đến là Tây Nguyên.

Sau đó diện tích cây cao su đã được mở rộng từ vĩ tuyến 23 độ Nam (São Paulo, Brazil) đến vĩ tuyến 29 độ Bắc (Ấn Độ, Myanmar và Trung Quốc) với cao trình có thể lên đến 1.100 m. Tại Việt Nam, cây cao su dần được trồng ra các vùng phi truyền thống như các tỉnh Nam Trung bộ, Bắc Trung Bộ và các tỉnh miền núi phía Bắc từ năm 2010.

Đặc điểm cây Cao su

Đặc điểm thực vật học của cây Cao su

Thân cây Cao su

Cao su là loài thân gỗ, sinh trưởng nhanh, trong tình trạng hoang dại cây có thể cao 30 – 50 mét, đường kính thân lên đến 5 – 7 mét. Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất, chiều cao cây tối đa chỉ từ 25 – 30 mét với đường kính thân đạt xấp xỉ 1 mét.

Mủ Cao Su

Có một đặc điểm thú vị về hình dạng của thân ở cây thực sinh (hoang dại) và các giống cao su lai ghép. Đó là sự khác nhau ở phần sát gốc cây. Đối với cây thực sinh hoang dại có hình dáng bình thường, trụ đúng thon tròn. Còn với cây lai ghép có dạng chân voi do vết chồi mắt ghép để lại.

Vỏ cây Cao su

Đây là bộ phận quan trọng của cây Cao su vì đây là bộ phận khai thác mủ cao su. Cấu tạo của vỏ thân bao gồm 4 lớp là biểu bì, nhu mô, tượng tầng, gỗ. Trong đó, phân nhu mô là quan trọng nhất do có chứa rất nhiều ống mủ gồm ống mủ sơ cấp và ống mủ thứ cấp. Ống mủ sơ cấp trong tầng vỏ không liên quan gì với ống mủ thứ cấp và hầu như không cho mủ.

Ống mủ thứ cấp chính là nơi sản sinh chính lượng mủ của cây. Bộ phận quan trọng này ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ khai thác. Ở những giống cao su khác nhau có độ dày võ khác nhau, và có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình khai thác mủ cao su.

Lá Cây Cao Su

Lá cây Cao su

Lá cây Cao su là lá kép gồm có 3 lá chét với phiến lá nguyên mọc cách, cuống lá dài có hình bầu dục, đuôi nhọn, mặt nhẵn có gân song song. Tán lá thường có hình chóp mủ, và có nhiều kiểu hình, màu sắc hình dạng tùy thuộc vào giống.

Cây cao su có thời kỳ rụng lá sinh lý vào mùa đông thường bắt đầu vào cuối tháng 11 hàng năm, lá rụng hoàn toàn sau đó ra toàn bộ lá mới. Hình thức thời gian thay lá từng phần hay đồng loạt cũng có sự khác biệt với những giống cao su khác nhau.

Hoa Cây Cao Su

Hoa, Quả, Hạt cây Cao su

  • Hoa cao su thuộc loại đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng. Trong một chùm hoa có số lượng hoa đực nhiều gấp 50 lần hoa cái. Sau khoảng thời gian từ 5 – 6 năm cây mới có hoa quả, thường nở vào mùa xuân. Sau 48 giờ nở phấn hoa mất sức sống, nhìn chung khả năng thụ tinh của cây cao su là khá thấp.
  • Quả cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa các hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài. Quả cây Cao su có 2 mùa, mùa chính trong tháng 8 – 9, và mùa phụ trong tháng 2 – 3 hàng năm.
  • Hạt cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, hạt chưa 20% protit, 25% dầu… Nếu thu hoạch hạt cao su để trồng cây gốc ghép nên sử dụng sau thu hoạch 3 – 4 tuần để đạt tỷ lệ nảy mầm tốt nhất.

Quả Cây Cao Su

Rễ cây Cao su

Cây Cao su có 2 loại rễ

  • Rễ cái: to, khoẻ, dài từ 3 đến 5m, cắm sâu vào lòng đất để hút nước, và giúp thân cây đứng vững.
  • Rễ bàng: là vô số rễ nhỏ mọc quanh đoạn có rễ, phân nhánh đan qua chéo lại như một mạng lưới hút các chất bổ dưỡng ở tầng đất mặt để nuôi cây. Rễ bàng tuy nhỏ mà nhiều, bên trên tán lá vươn ra đến đâu thì dưới đất rễ bàng mọc lan đến đó. Vì vậy, khi cày bừa để diệt cỏ trong lô ta nên cày với độ cạn khoảng 10 phân để tránh làm đứt rễ bàng.

Thông thường hễ thân cây cao thì rễ chuột càng dài. Tuy nhiên, do hiện nay các phương pháp trồng cao su chủ yếu là cây bầu do đó ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của rễ cái trên cây Cao su.

Mủ Cây Cao Su

Mủ Cao su

Mủ cao su là một chất keo dính, màu trắng đục hay ngã vàng được cây tiết ra nhằm chống lại sự xâm nhập của nấm và vi khuẩn tại vết thương. Nhưng do yêu cầu kinh tế mà các giống cao su hiện nay được trồng chủ yếu để khai thác mủ. Mủ được lấy ra bằng cách rạch vào vỏ cây (cạo mủ) và thu chất lỏng trong các mạch mủ bởi một quá trình gọi là khai thác mủ cao su.

Mủ cao su là hỗn hợp các polyme hợp chất hữu cơ isopren, nước và hỗn hợp các chất hữu cơ khác. Đây là một trong những sản phẩm giá trị nhất của cây cao su và cũng là mục đích chính để tuyển chọn, lai tạo những giống cao su sau này.

Đặc điểm di truyền của cây Cao su

Cây cao su có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36, cây cao su có thể là một dạng tứ bội với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 9. Các đặc tính như sinh trưởng, sản lượng, khả năng kháng bệnh đều do những tính trạng đa gen, di truyền theo phương phức cộng hợp và khả năng phối hợp chung quan trọng hơn khả năng phối hợp riêng.

Hiện nay, đa số các giống cao su được trồng phổ biến tại Việt Nam cũng như trên thế giới đến từ 22 cây cao su do H. Wickham du nhập vào Singapore năm 1877. Đến năm 1981 để khắc phục vấn đề di truyền hạn hẹp, xói mòn gen qua các quá trình dòng vô tính của 22 cây cao su ban đầu. Hiệp hội nghiên cứu và phát triển cao su quốc tế (IRRDB) tiến hành sưu tập các giống loài Hevea từ vùng nguyên quán Amazon tại vùng Acre, Rondonia và Mato Grosso.

Với nguồn gen phong phú, cùng những cải tiến vượt bậc trong công tác tạo tuyển giống tại Viện Nghiên Cứu Cao Su Việt Nam. Đã cho ra đời những dòng vô tính xuất sắc, đa dạng như RRIV 209, RRIV 106, RRIV 103, RRIV 124 …

Điều kiện sinh thái của cây Cao su

Vùng sinh thái tự nhiên của cây sao su thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm, khá đa dạng. Cây cao su thích hợp với vùng có lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô từ 1 đến 5 tháng, số ngày mưa thích hợp cho cây cao su là khoảng 100 – 150 ngày/năm và phân bố đều trong năm.

Đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1.500 mm/năm thì lượng mưa cần phải phân bố đều trong năm, đất phải có khả năng giữ nước tốt.

Nhiệt độ thích hợp nhất cho cây cao su là 25 – 30 độ C. Nếu nhiệt độ >40 độ C cây héo, nhiệt độ <10 độ C cây có thể chịu đựng được trong thời gian ngắn, nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như lá héo, rụng, chồi ngọn ngưng phát triển, vỏ thân bị nứt nẻ, xì mủ. Nhiệt độ <5 độ C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây.

Cây Cao Su Vườn Nhân

Cây cao su trưởng thành có sức chịu hạn tốt, phát triển tốt nhất trong điều kiện có 1.600 – 1.700 giờ nắng/năm và điều kiện gió nhẹ (1 – 3 m/s), nếu tốc độ gió lớn hơn 17 m/s thì cây sẽ bị gãy đổ.

Cây cao su ưa đất hơi chua với pH đất khoảng 4,5 – 5,6 và không chịu ngập. Đất trồng cao su có độ dốc không quá 30 độ, yêu cầu hóa tính đất không quá khắt khe nhưng lý tính đòi hỏi phải có tầng đất canh tác từ 1 mét trở lên (lý tưởng là 2 mét).

Trong đó không có đặc điểm trở ngại nào cho sự tăng trưởng của rễ như lớp thủy cấp treo, lớp laterit hóa dầy đặc hay lớp đá tảng, thành phần sét ở lớp đất mặt (0 – 30 cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn (>30 cm) tối thiểu 25%.

Với những điều kiện phù hợp với đặc tính của cây Cao su nên Đông Nam Bộ được coi là vùng trồng cây Cao su truyền thống của Việt Nam. Đây cũng chính là câu trả lời cho câu hỏi vì sao cây cao su được trồng nhiều ở Đông Nam bộ.

Giai đoạn phát triển cây Cao su trong canh tác

Trong điều kiện canh tác, chu kỳ vòng đời cây cao su từ 25 đến 30 năm, chia làm 2 thời kỳ chính.

Thời kỳ kiến thiết cơ bản: từ khi trồng đến lúc vườn cây đưa vào cạo mủ thường từ 6 – 9 năm tuỳ giống cao su và điều kiện môi trường.

Thời kỳ kinh doanh: kéo dài trong 20 – 25 năm. Do đặc điểm về chế độ khai thác, chia thành 3 nhóm cây.

  • Vườn cây nhóm I (vườn cây tơ): ở năm cạo thứ 1 đến 10.
  • Vườn cây nhóm II (vườn cây trung niên): ở năm cạo thứ 11 đến 17.
  • Vườn cây nhóm III (vườn cây già, thanh lý): ở năm cạo thứ 18 trở đi.

Lịch sử phát triển cây Cao su tại Việt Nam

Trước năm 1975

  • Cây cao su được thực dân Pháp đưa vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1878. Những cây cao su Việt Nam đầu tiên được trồng tại Thảo Cầm Viên hiện nay.
  • Đến năm 1892, 2000 hạt cao su từ Indonesia được nhập vào Việt Nam. Trong đó sống được 1600 cây , 1000 cây được giao cho trạm thực vật Ong Yệm (Bến Cát, Bình Dương), 200 được bác sĩ Yersin trồng thử ở Suối Dầu (Nay là Long Khánh – Đồng Nai).
  • Năm 1897 đã đánh dầu sự hiện diện của cây cao su ở Việt Nam. Công ty cao su đầu tiên được thành lập là Suzannah (Dầu Giây – Long Khánh – Đồng Nai) năm 1907. Tiếp sau, hàng loạt đồn điền và công ty cao su ra đời, chủ yếu là của người Pháp và tập trung ở Đông Nam Bộ: SIPH, SPTR, CEXO, Michelin… Một số đồn điền cao su tư nhân Việt Nam cũng được thành lập.
  • Đến năm 1920, miền Đông Nam Bộ có khoảng 7.000 ha và sản lượng 3.000 tấn.
  • Cây cao su được trồng thử ở Tây Nguyên năm 1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960 – 1962, trên những vùng đất cao 400 – 600 m, sau đó ngưng vì chiến tranh.
  • Trong thời kỳ trước 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miền Bắc, cây cao su đã được trồng vượt trên vĩ tuyến 170 Bắc (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ).
  • Trong những năm 1958 – 1963 bằng nguồn giống từ Trung Quốc, diện tích đã lên đến khoảng 6.000 ha. Hiện nay, cây cao su đã được trồng tại khu vực miền núi phía Bắc và Lai Châu được xem là thủ phủ của cây cao su ở khu vực này.

Sau năm 1975

  • Đến 1976, Việt Nam còn khoảng 76.000 ha, tập trung ở Đông Nam Bộ khoảng 69.500 ha, Tây Nguyên khoảng 3.482 ha, các tỉnh duyên hải miền Trung và khu 4 cũ khoảng 3.636 ha.
  • Sau 1975, cây cao su được tiếp tục phát triển chủ yếu ở Đông Nam Bộ. Từ 1977, cao su được trồng mới tại Tây Nguyên. Bắt đầu từ các nông trường quân đội, sau 1985 là các nông trường quốc doanh. Từ 1992 đến nay có sự tham gia của tiểu điền. Ở miền Trung sau 1984, cây cao su được phát triển ở Quảng Trị, Quảng Bình trong các công ty quốc doanh.
  • Đến năm 1999, diện tích cao su cả nước đạt 394.900 ha, cao su tiểu điền chiếm khoảng 27,2%. Năm 2004, diện tích cao su cả nước là 454.000 ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm 37%. Năm 2005, diện tích cao su cả nước là 464.875 ha.
  • Từ năm 2010, dự án trồng cao su ở các tỉnh miền núi phía bắc được khởi động. Hàng loại dự án được thành lập ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái.
  • Theo số liệu của VRA, đến cuối năm 2012 tổng diện tích cây cao su tại Việt Nam đã đạt 910.500 ha với sản lượng ước đạt 863.600 tấn. Nắm giữ vị trí thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.
  • Từ năm 2012 VRG cũng mở rộng diện tích trồng cây cao su sang các nước như Lào, Campuchia. Tập trung chủ yếu ở các tỉnh Kampong Cham, Kampong Thom, Mondulkiri, Ratanakiri, Kratie và Preah Vihear thuộc Campuchia với hơn 100.000 hecta.
  • Số liệu tổng quan về tình hình ngành cao su các nước thành viên ANRPC năm 2017. Diện tích cây cao su ở Việt Nam là 969.700 ha với sản lượng đạt 1.094.500 tấn.

Đang cập nhật ……….

Giống Cao Su