Phòng Trị Bệnh Botryodiplodia trên cây cao su

23

Bệnh Botryodiplodia xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa và gây hại cho hầu hết các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su. Đây là loại bệnh đặc biệt nghiêm trọng đối với vườn cây mới trồng nên cần phòng trị kịp thời.

Tác nhân gây bệnh Botryodiplodia

Botryodiplodia theobromae Pat., còn có tên Lasiodiplodia theobromae là tác nhân gây bệnh chính. Bệnh xuất hiện chủ yếu vào mùa mưa và gây hại cho hầu hết các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su.

Triệu chứng

Vị trí gây hại chủ yếu trên chồi, cành và thân có vỏ từ xanh đến hóa nâu. Triệu chứng thay đổi tùy dạng vườn cây.

  1. Vườn stump trần: Trên gốc ghép xuất hiện những nốt mụn nhỏ sau đó liên kết lại với nhau làm vỏ sần sùi, ít nhựa và khó bóc vỏ khi ghép gây ảnh hưởng đến tỷ lệ sống. Bệnh xuất hiện tại vị trí mắt ghép, bắt đầu vào thời điểm mở băng, gây ra hiện tượng chết lại mắt ghép.
  2. Vườn stump bầu và vườn tái canh – trồng mới: Bệnh xuất hiện trên chồi có triệu chứng ban đầu với vết lõm có màu đậm hơn, sau đó lan rộng và chết khô toàn bộ, vỏ bị chết xuất hiện những đốm nhỏ màu đen chứa nhiều bào tử. Phần gỗ bị chết có màu trắng với những vân nhỏ màu nâu đen, vỏ chết khó tách khỏi gỗ.
  3. Vườn nhân: Xuất hiện những nốt mụn nhỏ trên vỏ xanh nâu, sau đó liên kết lại với nhau làm khó bóc vỏ khi ghép và ít nhựa gây ảnh hưởng đến tỷ lệ sống.
  4. Vườn cây KTCB (1 – 2 năm tuổi trên vỏ xanh nâu): Trên chồi xuất hiện vết nứt có dạng hình thoi sau đó phát triển theo hướng lên trên và xuống dưới. Tại vết bệnh có hiện tượng mủ rỉ ra sau đó bị hóa đen do hiện tượng oxy hóa, phần vỏ và gỗ bị khô và xốp. Khi vết bệnh lan rộng, tán lá non sẽ khô và héo rũ nhưng không rụng, trên phần vỏ bị chết xuất hiện những đốm có màu nâu đen chứa nhiều bào tử. Thường xuất hiện vào thời điểm giao mùa. Mức độ gây hại rải rác hay tập trung 10 – 15 cây/điểm.
  5. Vườn cây từ 3 năm tuổi trở lên (vỏ hoá nâu) và vườn cây kinh doanh: Ban đầu xuất hiện những nốt mụn nhỏ 1 – 2 mm, sau đó các nốt mụn liên kết lại thành từng cụm 4 – 5 cm2 hoặc lan ra toàn bộ thân cành. Cây bị nhiễm bệnh nặng, biểu bì dày lên do nhiều lớp tạo thành, bong tróc ra khỏi vỏ. Lớp vỏ cứng và vỏ mềm trở nên cứng và dày hơn, sau đó xuất hiện những vết nứt, đôi khi có mủ rỉ ra và bên dưới không có đệm mủ.
    Vết nứt trên vỏ cây cao su do bệnh diễn biến rất chậm, chủ yếu theo hướng từ ngoài vào trong. Cây chậm phát triển, vỏ nguyên sinh bị u lồi, bề mặt gồ ghề nên không thể mở cạo hoặc có thể gây chết cây. Trên vườn kinh doanh bệnh làm giảm sản lượng, nếu kéo dài sẽ dẫn đến khô miệng cạo.

Biện pháp phòng trị

Nhận diện đúng bệnh để có biện pháp phòng trị chính xác, cần phân biệt rõ và tránh nhầm lẫn với hiện tượng nứt vỏ hoặc bong trong vỏ do các nguyên nhân khác gây ra như khô mặt cạo sinh lý, cháy nắng, sét đánh, rét hại hoặc khô hạn kéo dài hay các bệnh trên cây cao su khác Chú ý chỉ phun thuốc trị bệnh trong mùa mưa, đối với vườn cây KTCB và vườn kinh doanh không nên phun phòng bệnh hoặc phun thuốc khi bệnh còn ở mức rất nhẹ (cấp 1) vì nấm bệnh lúc này không ảnh hưởng đến cây, chỉ phun thuốc trị bệnh cho những cây nhiễm ở mức cấp 2 trở lên.

  1. Vườn ương, vườn nhân: Phun phòng cho vườn ươm mới ghép (tum, bầu) và cây có tầng lá bằng carbendazim (Vicarben 50HP, Carbenzim 500FL, Carbenvil 50SC, Glory 50SC) hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Vixazol 275SC, Arivit 250SC) nồng độ 0,3% phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 0,3%, 2 – 3 lần với chu kỳ cách nhau 10 – 15 ngày/lần. Cây con phải xử lý sạch bệnh trước khi đem trồng.
  2. Vườn cây kiến thiết cơ bản: Sử dụng carbendazim (Vicarben 50HP, Carbenzim 500FL, Carbenvil 50SC, Glory 50SC) hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Vixazol 275SC, Arivit 250SC) nồng độ 0,3% – 0,5% phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 0,5% – 1,0%. Dùng bình phun đeo vai xử lý 2 – 3 lần với chu kỳ 2 – 3 tuần/lần cho những cây bị bệnh và cây liền kề. Khi chồi bị chết, cắt dưới vết bệnh 10 – 20 cm với góc 45° và dùng vaselin bôi một lớp mỏng tại vị trí cắt.
  3. Vườn cây kinh doanh: Sử dụng carbendazim (Vicarben 50HP, Carbenzim 500FL, Carbenvil 50SC, Glory 50SC) hoặc hỗn hợp của carbendazim và hexaconazole (Vixazol 275SC, Arivit 250SC,) nồng độ 0,5% phối hợp với chất bám dính BDNH 2000 nồng độ 1,0% – 1,5%. Dùng bình phun đeo vai xử lý 2 – 3 lần với chu kỳ 7 – 10 ngày /lần. Phun phủ kín vết bệnh. Chú ý phun kỹ độ cao 0 – 3 m cách chân voi. Ngưng cạo cây bị bệnh nặng để điều trị khỏi bệnh.

Kết luận

Hiện nay bệnh Botryodiplodia xuất hiện khá phổ biến trên diện tích trồng mới ở Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Giống RRIV 209 là một trong những giống khá mẫn cảm với bệnh trong giai đoạn trồng mới. Nên cần đặc biệt chú ý phòng trị kịp thời.

error: Nội dung bị ẩn!